Đọc "Phồn hoa kinh"
của Hoàng Nguyên Nhuận
Nguyễn Văn
Cái tên quyển sách,
Phồn hoa kinh (*), thoạt đầu mới nghe qua có thể gieo một ấn
tượng về một tập kinh tôn giáo, hay tựa đề bay bướm của một cuốn tiểu
thuyết, nhưng thực tế nó là một cuốn sách luận văn. Nói cho chính xác hơn,
quyển sách là tập hợp những suy nghĩ của tác giả (Hoàng Nguyên Nhuận) về quê
hương, lịch sử, xă hội, tôn giáo, văn học, và những vấn đề mà tôi tạm gọi là
“thế thái nhân t́nh”, hay chuyện phồn hoa đô thị, được thể hiện qua những
bài viết mà tác giả đă công bố trên một số báo chí ở hải ngoại trong ṿng
một thập niên qua.
Mỗi quyển sách đều có một
lịch sử, và cuốn sách này cũng không nằm ngoài cái lệ thường đó. Lịch sử
của Phồn hoa kinh có lẽ là quá tŕnh dấn thân hoạt động và triết lí
sống của chính tác giả. Hoàng Nguyên Nhuận, dĩ nhiên, nổi tiếng qua những
hoạt động trong phong trào Sinh viên Phật tử trong những năm nóng bỏng của
thập niên 1960s thời mà anh em ông Ngô Đ́nh Diệm cầm quyền ở nam Việt Nam.
Là một người đóng vai tṛ tích cực trong các hoạt động đấu tranh cho Phật
giáo, Hoàng Nguyên Nhuận từng là nạn nhân khốn khổ của nhiều chính quyền
trên đất nước Việt Nam, và c̣n là nạn nhân bi hài của những người chuyên
hành nghề chụp mũ trong kĩ nghệ chống Việt Nam ở hải ngoại. Cái nghiệp của
tác giả quả đúng với cái ví von chua cay mà tác giả từng nói: “Tôi là một
cái móc áo cho thiên hạ treo đủ thứ áo với những màu sắc khác nhau.” Sống
qua ba chế độ ở trong nước, làm học sinh, làm thầy dạy học, làm người xuống
đường đấu tranh, làm lính, làm tùy viên báo chí, làm báo, làm người tù, và
làm người tị nạn trong cuộc sống bôn ba ở hải ngoại đă cho Hoàng Nguyên
Nhuận những cơ hội trần thế để làm chứng nhân của những bể dâu, và “những
điều mắt thấy mà đau đớn ḷng”. Một phần lớn những bài viết Phồn hoa
kinh phản ánh những kinh nghiệm rất Việt Nam đó của họ Hoàng.
Trong một bài phỏng vấn
do Quán Như thực hiện đăng trên Tập san Chuyển Luân, tác giả tâm sự
rằng cuộc đời ḿnh gói gọn trong những thông số của “ba giải”: Đối với tư
tưởng, Hoàng Nguyên Nhuận kêu gọi giải hoặc; đối với lịch sử ông chủ
trương giải thực; và đối với tôn giáo ông thỉnh cầu giải nghiệp.
Chữ “giải” ở đây phải hiểu là hóa giải, là t́m câu đáp số cho một bài toán,
là giải thoát khỏi những bó buộc. Giải hoặc có nghĩa là chống lại
những tư tưởng huyễn hoặc của bọn thực dân (hay những người theo thực dân)
làm cho băng hoại xă hội Việt Nam. Giải thực là chống thực dân –
chấm hết. V́ thế giải thực và giải hoặc tuy hai mà một, là việc làm mà
Hoàng Nguyên Nhuận tin rằng sẽ “góp phần tranh đấu cho độc lập quốc gia, ḥa
b́nh dân tộc, và cách mạng xă hội” (Trích Chuyển Luân số 24, năm
2001). C̣n Giải nghiệp th́ sao? Theo Hoàng Nguyên Nhuận, “mục tiêu
tối hậu của người Phật tử là giải thoát. Điều kiện giải thoát là chuyển
nghiệp, là giải nghiệp. Giải nghiệp không chỉ là biệt nghiệp tự thân mà c̣n
là cộng nghiệp của tha nhân. Hai cộng nghiệp nặng nề nhất là thực dân đế
quốc và ư thức hệ huyễn hoặc không tưởng. Cho nên giải nghiệp cũng là giải
thực và giải hoặc” (trang 31). Nội dung của Phồn hoa kinh xoay quanh
ba chủ đề này: giải hoặc, giải thực, và giải nghiệp.
Những vấn đề mà
tác giả quan tâm đến được phân xếp vào bốn phần không có tên, nhưng người
đọc tinh tế có thể nh́n thấy cái thứ tự rơ ràng. Phần I gồm 8 bài viết liên
quan đến các vấn đề về hiện t́nh quê hương Việt Nam. Có thể nói đây là
những bài viết mang tính giải thực. Phần II gồm 8 bài viết bàn về văn học,
về chủ nghĩa hậu hiện đại, và có thể nói là phẩn giải hoặc. Phần III gồm 6
bài viết trao đổi với các tác giả như Vơ Phiến, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Gia
Kiểng, và thậm chí … Đức Giáo Hoàng. Những bài viết này có thể nói là nằm
trong chủ đề giải thực và giải nghiệp. Và phần cuối cùng (phần IV) gồm 9
bài viết về những chuyện mà tôi tạm gọi là “thế thái nhân t́nh”, những
chuyện mà Trịnh Công Sơn có lần gọi là “Trả nợ đời”.
Hoàng Nguyên
Nhuận giải hoặc, giải thực, và giải nghiệp đứng trên một lập trường sắc son
(hay có người nói là “cực đoan”): Đó là lập trường dân tộc, là quả quyết
“Người Việt đúng trước cái đă,” cho dù đó là một niềm tin “thấy mù.” Cái
lập trường này được phát biểu bằng một ngôn ngữ cực ḱ thế tục và có thể làm
cho nhiều người phải cau mày khó chịu: “Ư thức dân tộc lắm khi nếu không là
một bản năng th́ ít ra cũng là một xung động hữu kiện, tương tự như ư thức
tư hữu của con chó. Với ư thức tư hữu đó, con người thương gốc đa đầu làng
thế nào th́ con chó nhớ gốc cây đó mà nó đă đái vào để ‘đánh dấu’ thế ấy,
con người bảo vệ quê cha đất tổ thế nào th́ con chó cũng sủa cắn người lạ để
giữ nhà thế ấy. Ít ra là như thế ...” (Phồn hoa kinh,
trang 65).
Nếu Tổ quốc
ăn năn của Nguyễn Gia Kiểng không nhân nhượng với lịch sử Việt Nam (như
“người Việt không biết đọc, không biết viết, không biết nói”), th́ Phồn
hoa kinh của Hoàng Nguyên Nhuận cũng không nhân nhượng với những người
không nhân nhượng lịch sử và dân tộc Việt Nam. Đối với Tổ quốc ăn năn,
tác giả có cái nh́n khác hẳn với những người khác. Bằng cách nói ví von
“Lịch sử có thể là một thực tại tương tự như con voi trong tay mấy người
mù”, và “Lịch sử tái hiện tùy theo quan điểm và ư tưởng của người nh́n về
lịch sử”, tác giả cho rằng Nguyễn Gia Kiểng nổi giận v́ “tâm thức lăng mạn
chính trị chứ đây không phải là một hành động đặc công chính trị nhằm hủy
hoại tất cả mọi thần tượng lịch sử để đi đến kết luận rằng lịch sử Việt
Nam tồi như thế th́ không mất vào tay Pháp cũng mất vào tay người khác thôi,
đừng đổ lỗi cho người ta xúi dục Pháp vào chiếm Việt Nam, hoặc lên án người
ta cơng rắn cắn gà nhà? Hoàng tôi hy vọng, khi dùng lập luận đó,
Nguyễn Gia Kiểng và nhóm Thông Luận không hề vô t́nh hay cố ư sắp hàng với
kẻ bán nước hay phản quốc, hoặc sắp hàng với kẻ chuyên môn đi cướp nước
người” (trang 382).
Phồn hoa kinh
không chỉ giới hạn trong những cái gam thời sự xă hội chính trị, mà c̣n đột
kích thẳng vào những thái độ vênh vang và thách thức những suy nghĩ “phổ
thông” của những người hành nghề chống dân tộc ở hải ngoại, nó phơi bày
những sự thật trớ trêu của tṛ đời. Viết về những người này, Hoàng Nguyên
Nhuận nhận xét: “Họ hô hào đ̣i hỏi nhân quyền, dân chủ, tự do ‘lập tức, tức
khắc, triệt đề, toàn diện’ mà không hề quan tâm đến tương quan ư nghĩa của
những từ ngữ đó đối với ư chí tự quyết, tự chủ, ư thức đồng bào, và ngay cả
tự ái dân tộc là những điều đă giúp cho Việt Nam c̣n là Việt Nam như ngày
hôm nay” (trang 25). Đối với những người ‘quốc gia’: “Một số người tự nhận
là ‘quốc gia’ thường nh́n Nhà nước Việt Nam như cái đ̣n kê, như tấm thớt để
tỏ bày hờn giận hận thù, v́ trước tiên ồn ào tỏ ra hận thù kiểu đó nhiều khi
chẳng mất vốn mà lại rất nhiều lời” (trang 66). Nhận xét về những người đối
kháng ở trong nước: “Trong khi một số người nước ngoài đối kháng như một
nghề - cựu đại tướng Nguyễn Khánh mới đây gọi là những kẻ ‘làm nghề chống
cộng’ – th́ một số người trong nước lại đối kháng như là thời trang. Trước
sau họ sẽ thấy rằng mẫu số chung của cái nghề đó và cái thời trang này là ư
thức vọng ngoại thỏa hiệp và ư hướng biện minh cho hành động bán nước từ 200
năm nay của một số người” (trang 69).
Đọc Phồn hoa kinh
giống như một cuộc dạo chơi quanh một thành phố không có biên giới, nhưng có
nhiều bản hiệu, đèn xanh, đèn đỏ. Nhưng chúng ta không chắc những đèn
xanh đỏ ấy có thực sự cho người ta một cảm giác về phương hướng hay làm lạc
hướng. Trong thành phố ấy, chúng ta sẽ gặp những nhân vật gồm đủ thành
phần, mang nhiều màu sắc trong thành phố ấy mà chúng ta cảm thấy rất quen
thuộc. Họ là Thích Măn Giác, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Hữu Loan, Mai
Thảo, Tố Hữu, Huy Cận, Phạm Thiên Thư, Nguyên Sa, Trần Hồng Châu, Lệ Hằng,
Vơ Phiến, Dương Văn Minh, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Gia Kiểng,
và thậm chí … Đức Giáo Hoàng.
Xuyên suốt Phồn hoa
kinh, người đọc sẽ t́m thấy những nét chấm phá những nhân vật trên. Với
Phạm Thiên Thư: “Kho trời chung của Phạm Thiên Thư là người đàn bà,
là t́nh yêu nam nữ. Người đàn bà đó, t́nh yêu đó ... ngàn năm trước hay bây
giờ khác ǵ nhau? Khác chăng là Phạm Thiên Thư đă biến kho trời chung đó
thành Ngọ của Ngày Xưa Hoàng Thị, Ngọ là vô tận của ḿnh riêng bằng
những vần thơ” (trang 428). Với “một tài hoa đa đoan” Phạm Duy , Hoàng
Nguyên Nhuận nhận xét rằng “Phạm Duy là hiện thân của khổ đế lịch sử,” và
cuộc đời ông “cũng là biểu hiện của những nhịp vơng lịch sử” (trang 240).
Với Trịnh Công Sơn, người mà tác giả cho rằng một “Nguyễn Du của thế kỉ 20”:
“Trịnh Công Sơn là một cuộc đời hóa thân vào nghệ thuật xưng tụng thân phận
và t́nh yêu của mọi kiếp người ... len lỏi vào tận tâm hồn sâu thẳm của
người Việt, đánh thức t́nh yêu quê hương xứ sở” (trang 525). Với Vơ Phiến:
“Giá trị của Vơ Phiến là giá trị ư thức hệ chống cộng phát xuất từ những
huyền thoại quanh hành tung của Vơ Phiến hơn là sáng tạo văn học” (tramg
292). Về Nguyễn Văn Chức với cuốn “Việt Nam chính sử”, Hoàng Nguyên Nhuận
viết: “Là một luật sư hết chỗ hành nghề, một chính khách mất đất dụng vơ,
một nghị sĩ không c̣n Nghị trường để hoạt náo … nên có dịp múa bút th́ ng̣i
bút của Nguyễn Văn Chức liền trở thành loạng quạng quay cuồng không kém ǵ
cây gậy trong tay một anh mù chếnh choáng hơi men” (trang 300) ...
Hoàng Nguyên
Nhuận không phải là một tín đồ của chủ nghĩa hậu hiện đại. Đối với ông, đó
là một cái ǵ tục tiễu và không đáng phí công bàn tán xôn xao. Cũng như Cao
Hành Kiện, Hoàng Nguyên Nhuận có ư cho rằng những cuộc tranh luận văn học
Việt Nam hiện nay chỉ là những căi vă, tranh chấp vấn đề của người khác, hay
nói cụ thể hơn là của những ông hoàng tư tưởng của Tây phương. Điều này đă
cướp đi người Việt Nam một năng lực sáng tạo, và hậu quả là giới trí thức
Việt Nam chỉ bàn chuyện của ... người khác, và lang thang một vô định trong
các nhà tù của quan niệm và thông số của người khác. Bàn về cái mới
trong thơ, Hoàng Nguyên Nhuận viết: “Câu hỏi đặt ra cho người cầm bút không
phải là có nên theo mới hay không theo mới. Câu hỏi đặt ra là họ đă thành
công trong sự diễn đạt mới một nội dung cũ, hay diễn đạt cũ một
nội dung mới, hay họ chỉ núp sau một h́nh thức mới để lấp đầy cái
lỗ hổng tâm cảm hay tài năng diễn đạt mà họ không thể lấp đầy hay tát cạn
bằng tài năng hay bản lĩnh giới hạn của ḿnh?” (Trang 427).
Hoàng Nguyên Nhuận là
người đọc nhiều, hiểu rộng, và quan trọng hơn hết, lúc nào cũng biểu hiện
một cái nh́n bao quát, triết lí. Có lẽ chính cái chất triết này giúp cho
tác giả có được cái tính nhạy cảm và phát biểu một cách ngắn gọn (giống như
cách phát biểu của Samuel P. Huntington) nhưng sâu sắc. Do đó, ở một khía
cạnh nào đó, Phồn hoa kinh là tập hợp những statements – những
phát biểu bén nhậy của Hoàng Nguyên Nhuận. Chẳng hạn như “Cuộc đời là
một nỗi bất hạnh đột nhiên ngộ chứng”; hay khi nói về đạo và đời, Hoàng
Nguyên Nhuận viết: “Đạo làm cho người gần nhau, người theo đạo làm cho
người xa nhau” (trang 382); bàn về hạnh phúc: “Hạnh phúc và thành
công dễ làm cho người ta xa ghét nhau hơn là đau khổ và thất bại” (trang
123); bàn về thơ: “Thơ là một tṛ chơi, một tṛ chơi với vần điệu”
(trang 269), v́ thế “Nhà thơ là một người chơi, người làm xiệc, một nhà
ảo thuật với ngôn từ và vần điệu” (trang 269) ...
Một nhà văn
Pháp từng nói “Văn là người”. Văn chương của Phồn hoa kinh, một phần
lớn, cũng phản ánh tác giả của nó. Đó là loại văn chương đầy chất thơ. Dù
viết về những đề tài khô khan như chính trị, tư tưởng, hay xă hội, ng̣i bút
của Hoàng Nguyên Nhuận luôn luôn rất thi vị, giống như Nhà báo kiêm Nhà thơ
tài danh người Uruguay, Eduardo Galeano, vậy. Tôi có một nhận xét ngộ
nghĩnh: Những người gốc Huế, dù viết về đề tài ǵ, đều có một giọng văn rất
thi vị và mông lung. Một trong các tác giả Phật tử khác mà tôi ham đọc là
Cao Huy Thuần, có lẽ cùng thời với Hoàng Nguyên Nhuận, cũng có một văn phong
giông giống như văn phong của tác giả Phồn hoa kinh. Nếu văn của Cao
Huy Thuần là một khai triển ư tưởng mang tính hàn lâm, kéo dài như bất tận,
th́ văn của Hoàng Nguyên Nhuận là những câu chữ lăng mạn của một nghệ sĩ
nhưng với cái nh́n của một nhà sư (hay ít ra là một Phật tử) đă ngày càng
thi vị những từ ngữ như định hướng, luật lệ, phải trái, trên dưới, ngược
xuôi. Ngay cả những tựa đề của những bài viết trong cuốn sách cũng “bị” tác
giả thi vị hóa: Như chuyện thần tiên, Mă thượng ham vui,
Công án tử sinh, Mộng trong mơ, Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về,
Nói với nửa phần hồn của tôi, Đôi mắt hớp hồn tôi, v.v... là những tựa
đề của những bài viết mà người đọc phải chuẩn bị tinh thần để đi vào cái thế
giới li ḱ của Hoàng Nguyên Nhuận. Ngay cả cái tên của cuốn sách đă gợi ṭ
ṃ cho người đọc. Phồn hoa kinh là ǵ? Nói đến Kinh là người
ta nghĩ ngay đến kinh kệ, tức là những phát biểu của bậc thông thái, của
những nhà hiền triết làm khuôn vàng thước ngọc, thường được đọc hay tụng
niệm trong chốn trang nghiêm, chứ ít khi nào – nếu không muốn nói là không
khi nào – được đem ra tuyên bố giữa chốn phồn hoa đô thị! Nhưng đó là cái
phong cách làm nên Tác giả Hoàng Nguyên Nhuận.
Tuy văn phong của Hoàng
Nguyên Nhuận đượm chất thơ và b́nh thản, thậm chí có lúc giễu cợt, nhưng
quyển sách này không phải là món ăn tinh thần cho mọi người. Đối với những
ai mà suy nghĩ và hành động chịu sự chi phối của trái tim, lời khuyên chân
thành của tôi là không nên đọc Phồn hoa kinh, v́ quyển sách có thể
làm cho tim họ bị bệnh hơn, thậm chí bị “heart attack”. Đối với những ai đă
bị văn chương phố Bolsa thấm vào máu, quyển sách này là một cú sốc cho họ.
Sách vừa mới ra đời th́ tác giả đă bị một người Mĩ gốc Việt trong kĩ nghệ
chống Việt Nam ở phố Bolsa mắng là “hỗn xược.” Tôi không ngạc nhiên về
những nhận xét tương tự như thế sẽ xuất hiện nay mai trên mặt báo phố Bolsa,
v́ đối với những người không đủ can đảm hay khả năng quản lí cái-khác sẵn
sàng đồng hóa, khái quát hóa tất cả những ǵ khác họ là “Cộng sản”. Nhưng
Đối với những ai thích suy nghĩ và hành xử theo lí trí, hay c̣n nặng t́nh
dân tộc, th́ nên t́m đọc cuốn sách này, v́ nó là một món ăn tinh thần bổ
dưỡng, v́ nó cho người đọc một cái nh́n rất khác biệt với những câu chữ quán
tính đă và đang được bộ máy truyền thông trong cái kĩ nghệ chống Việt Nam và
kĩ nghệ gây hận thù rao giảng bấy lâu nay.
Khác biệt ư kiến là một
nhu cầu và điều kiện cho tiến bộ, và quản lí sự khác biệt ư kiến là một nghệ
thuật trí thức. Phồn hoa kinh đạt cả hai chỉ tiêu đó. Cái khác của
Phồn hoa kinh rất cần thiết trong t́nh trạng đơn điệu hiện nay ở hải
ngoại, cái t́nh trạng mà một tác giả trên Đi Tới đặt tên là “Đường ṃn
chữ nghĩa”. Trong Phồn hoa kinh, người đọc sẽ không
thấy những câu chữ theo đường ṃn, theo quán tính, mà là những câu chữ thách
thức, động năo, và có khi nghịch lí.
So với các sách phát hành
ở hải ngoại, Phồn hoa kinh là một cuốn sách hơi khác thường, bởi v́
nó không có lời nói đầu, cũng chẳng có lời giới thiệu, và phần kết thúc cũng
không có nốt. Không biết đó là ngụ ư của tác giả hay là một thiếu sót.
Song, sách được in ấn đẹp, với b́a do Khánh Trường vẽ, nền tranh màu sám
cũng là một phát biểu về thành phần độc giả của cuốn sách. Dù là một tạp
ghi, nhưng tác giả cũng cẩn thận chú thích và liệt kê tài liệu tham khảo
một cách chính xác. Đó là một điểm son của cách viết sách, và thể hiện sự
tôn trọng cho người đọc. So với đại đa số sách vở xuất bản ở hải ngoại,
Phồn hoa kinh là cuốn sách có rất ít lỗi chính tả. Ít chứ không có
nghĩa là không có. Vài lỗi chính tả xuất hiện đây đó trong sách như “kẽ
thù”, “cha đẽ”, “sáng sũa”, “hổn loạn”, “cọng ḥa”, “Afganistan”, v.v...
Ngoài ra, phần Mục lục cũng có chỗ đánh số sai, như bài “Nói với nửa phần
hồn của tôi” đáng lẽ là trang 383 nhưng lại đề là 283. Cố nhiên, những
lỗi lầm nhỏ này không làm giảm giá trị của quyển sách hay làm lu mờ những
phát biểu của tác giả.
Phồn hoa
kinh là quyển sách thứ 2 của Hoàng Nguyên Nhuận, tiếp theo cuốn Từ
chốn lưu đày xuất bản trên dưới 10 năm trước đây. Hồi đó, khi Từ
chốn lưu đày ra đời, Nguyễn Ngọc Bích nhận xét đó là cuốn sách “hay nhất
trong năm”, nhưng “Ấn Quang quá.” Tôi không biết Phồn hoa kinh có
“Ấn Quang quá” hay không, nhưng quyển sách đă, một phần nào đó, làm tṛn cái
nhiệm vụ giải hoặc tư tưởng, giải thực lịch sử và giải nghiệp tôn
giáo của Hoàng Nguyên Nhuận.
Chú thích.
(*) Phồn hoa kinh của Hoàng Nguyên Nhuận, do Nhà xuất bản Văn Mới ấn
hành, 541 trang, kể luôn 13 trang Chú thích, giá bán $18 Mĩ kim.
Bài này trích đăng lại từ Tạp chí Đi Tới
(Canada), số tháng 10 năm 2003. |
|